Công ty Luật Công Chính - Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội

Hỗ trợ trực tuyến

  • Gmail: lsngoctrai@gmail.com

Nghiên cứu pháp luật

Hồi ký vụ án Hàn Đức Long – Kỳ 14: Đấu tranh cho quyền im lặng (P2)

Quyền im lặng thực sự là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, đây là yếu tố pháp lý nền tảng căn bản quan trọng, mà theo đó các hoạt động tố tụng sẽ phải thay đổi để phù hợp với môi trường pháp lý mới khi bị can được quyền im lặng. Ngành điều tra nhận thấy nguy cơ bị ảnh hưởng nên đã phản đối quyết liệt, họ cho rằng quyền im lặng sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Theo ý của họ thì chẳng phải là mọi người có cùng mong muốn xử lý tội phạm giữ gìn sự bình yên cho xã hội hay sao? Vậy tại sao lại không tạo điều kiện cho hoạt động điều tra mà lại muốn có quyền im lặng để “trói tay trói chân” người khác?

Tôi cũng đã tranh biện lại để bảo vệ cho quyền im lặng, trong một bài báo tôi cho rằng: Thực ra việc đòi hỏi cần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra để chống tội phạm là điều chính đáng, và thực chất lâu nay pháp luật đã tạo điều kiện rộng rãi cho hoạt động điều tra rồi, có thể nói là nhà nước và nhân dân không tiếc gì mà không hỗ trợ tạo cho hoạt động điều tra xử lý tội phạm. Thực tế mọi cơ quan, ban ngành, hội đoàn hay người dân đều phải có nghĩa vụ hợp tác khi cơ quan điều tra có yêu cầu.

Song cũng nên biết rằng mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm chỉ là một trong nhiều mục đích của Bộ luật tố tụng hình sự mà thôi, tại Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ của Bộ luật này đã viết về một loạt nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó có các nhiệm vụ như: Bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Mục tiêu nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được nhắc đến sau cùng, xếp sau mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng tức là tinh thần của Bộ luật tố tụng hình sự coi trọng việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hơn. Bản thân các nghi can hình sự cũng là công dân và khi chưa có bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật thì họ vẫn chưa phải là tội phạm, cho nên quyền công dân của họ vẫn cần được tôn trọng, việc bức ép họ khai báo là xâm phạm thẳng vào quyền công dân mà Bộ luật tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo vệ.

Ở Việt Nam lâu nay nhiều người có tâm lý nhận thức coi trọng việc xử lý tội phạm mà xem nhẹ việc bảo vệ các quyền công dân, quyền công dân thường bị hy sinh cho đòi hỏi đấu tranh phòng chống tội phạm. Điều này thể hiện ở chỗ rất phổ biến các trường hợp bị bắt giam giữ phục vụ cho điều tra, và thời hạn điều tra thường kéo dài mà trong suốt thời gian đó bị can bị giam giữ. Trong vụ án Hàn Đức Long các cơ quan coi trọng việc xử lý tội phạm nên theo đuổi việc điều tra kết tội kéo dài, trong suốt quãng thời gian hàng chục năm quyền công dân của ông Long luôn bị xâm phạm, ông đã bị giam giữ kéo dài sống trong môi trường nghiệt ngã nặng nề.

Quyền im lặng sẽ khiến cho toàn bộ quy trình điều tra truy tố xét xử theo lề lối truyền thống lâu nay phải hiệu chỉnh sửa đổi để thích ứng cho phù hợp. Tính quan trọng như vậy cho nên nó cũng vấp phải sự phản đối quyết liệt bởi những người ngại sự thay đổi, chỉ muốn giữ thói làm án tùy tiện lạm quyền như lâu nay.

Ngẫu nhiên là trong quá trình tranh cãi về quyền im lặng thì ở Việt Nam xảy ra hai vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng, đó là vụ án ở Bình Phước có 06 người bị giết và vụ án ở vùng núi tỉnh Nghệ An có 04 người bị giết. Hai vụ án đã thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo người dân cả nước, và đồng thời với đó trên diễn đàn pháp lý người ta đặt câu hỏi rằng kẻ thủ phạm giết nhiều người kia có được hưởng quyền im lặng hay không? Đây là vấn đề khúc mắc khó hiểu đối với tâm lý nhận thức chung của cộng đồng, người ta cho rằng nếu bắt được kẻ thủ ác thì phải bắt nó khai ra vì sao giết người, mâu thuẫn oán thù gì mà sát hại cả nhà người ta như vậy, có ai tham gia gây án cùng và hung khí cất giữ ở đâu? Công luận nôn nóng muốn biết những điều đó vậy chẳng lẽ bắt được nghi phạm rồi lại để cho nó im lặng?

Tôi đã viết một bài báo luận giải vấn đề nêu rằng, vậy thì chẳng lẽ quyền im lặng chỉ áp dụng đối với những vụ phạm tội ít nghiêm trọng thôi sao, còn những nghi phạm giết nhiều người thì không được quyền im lặng? Điều này đương nhiên là không đúng nhưng luận giải ra sao, tính khoa học và sức thuyết phục đến đâu để giúp cộng đồng hiểu và đồng tình về quyền im lặng thì đây rõ ràng là một thử thách lớn cần vượt qua, và đây có lẽ là thử thách tranh biện cuối cùng đối với những ai ủng hộ quyền im lặng. Bản thân tôi cũng thấy mình may mắn đưa ra được lời giải đáp thỏa đáng, giúp cho quyền im lặng cuối cùng được tiếp thu triển khai.

Theo đó tôi cho rằng những chướng ngại cản trở quyền im lặng xuất phát từ việc hiểu sai các vấn đề pháp lý. Trong vụ án 06 người chết ở Bình Phước xảy ra vào sáng ngày mùng 07 tháng 07 năm 2015, chỉ trong vòng 03 ngày thì công an bắt được hai nghi phạm. Vụ án ở Nghệ An mất nhiều thời gian hơn, từ khi được phát hiện vào ngày mùng 02 tháng 07 năm 2015 hai tuần sau mới bắt được nghi phạm. Ngay sau khi bắt cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai mục đích xem nghi phạm có thừa nhận phạm tội không và nguyên nhân động cơ mục đích nào. Vậy để xem nghi phạm có nên được quyền im lặng hay không ta hãy xét xem cái mục đích của việc hỏi cung có xác đáng không, từ đó đánh giá xem việc lấy lời khai có phải là không thể thiếu được khi giải quyết một vụ án?

Thứ nhất, về vấn đề lấy lời khai để xác định nguyên nhân động cơ mục đích phạm tội, tôi cho rằng chỗ này đang tồn tại một cách hiểu sai và cách hiểu sai này tồn tại trong cả giới cán bộ tư pháp và cộng đồng xã hội. Theo tôi thì việc xác định nguyên nhân động cơ mục đích gây án, đó đúng ra là sự suy nghiệm của cán bộ điều tra nhằm mục đích khoanh vùng và xác định nghi phạm. Cán bộ điều tra đứng trước hiện trường và các manh mối dấu vết, họ hình dung nhận định về nguyên nhân động cơ mục đích gây án để từ đó lần theo nghi phạm.

Ví như trong vụ án ở Bình Phước dấu vết cho thấy việc giết người xảy ra từ ở ngoài cổng, ở tầng một lẫn phòng ngủ tầng hai (không phải nơi chứa tiền) cho thấy động cơ gây án vượt quá mục đích nhằm lấy tài sản. Việc giết hại hết những người có khả năng nhận diện hung thủ cho thấy có thể là người quen. Việc đoán định nguyên nhân động cơ gây án như vậy cộng với các nguồn dữ liệu thông tin khác sẽ giúp cơ quan điều tra xác định nghi phạm.

Như thế, việc xác định nguyên nhân động cơ mục đích gây án xem việc giết người vì tài sản, hay trả thù cá nhân, có ý nghĩa ở giai đoạn trước khi bắt được nghi phạm, chứ không phải là bắt được rồi mới hỏi xem nguyên nhân động cơ mục đích gây án là gì. Vì khi đã bắt được rồi dựa vào mối quan hệ nhân thân giữa nghi phạm và nạn nhân thì dễ dàng nhận ra nguyên nhân động cơ mục đích đằng sau, việc xác định không còn khó nữa. Nếu hiểu vấn đề như thế sẽ thấy bớt đi được một lý do phải lấy lời khai và theo đó bị can cần được quyền im lặng.

Vấn đề thứ hai, có ý kiến cho rằng phải lấy lời khai xem nó có thừa nhận không để mà kết tội chứ nó không khai thì làm sao kết tội được? Thực ra dù nghi phạm chối cãi không nhận hoặc im lặng không trả lời thì vẫn có cơ sở để kết tội, cơ sở để kết tội đó chính là những cơ sở bằng chứng đã giúp bắt được nghi phạm. Những dấu vết bằng chứng nào đã giúp cơ quan điều tra xác định được nghi phạm đó cũng chính là những bằng chứng để tòa án kết tội bị cáo, đó có thể là nhân chứng hoặc vật chứng thu giữ được như dấu máu vân tay…

Trong vụ án ở Bình Phước, đồng thời với việc bắt nghi phạm cơ quan điều tra đã khám xét chỗ ở của nghi phạm và thu giữ được một loạt vật chứng gồm điện thoại, laptop, quần áo mưa dính máu. Vậy sau khi xét nghiệm mẫu máu dính trên đồ vật đúng là máu nạn nhân và các thứ điện thoại, laptop cũng của nạn nhân thì đó là quá đủ chứng cứ để kết tội rồi, do vậy không cần nghi phạm phải khai báo nữa thì vẫn có đủ cơ sở để kết tội. Các cơ quan tố tụng hoàn toàn có thể yên tâm mà phán rằng: Cho mày im lặng, dù có im lặng không khai thì vẫn có đủ cơ sở để kết tội mày.

Một ví dụ về vụ án khác cho thấy không cần phải lấy lời khai vẫn giải quyết được án, đó là vụ án xảy ra hồi tháng 04/2015 ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Một người phụ nữ đã dùng dao chém chết ba bà cháu một gia đình hàng xóm, sự việc xảy ra có nhân chứng vật chứng rõ ràng. Ngay sau đó hung thủ bị bắt và rõ ràng là vụ án này cho dù bị can được quyền im lặng thì vẫn có đủ cơ sở để kết tội và giải quyết được vụ án.

Theo đó chính những dữ liệu bằng chứng đã giúp cơ quan điều tra xác định và bắt được nghi phạm đó cũng chính là dữ liệu bằng chứng để tòa án kết tội bị cáo, cho nên kể từ sau khi bị bắt nếu bị can im lặng không khai thì cũng không phải việc điều tra bị bế tắc không làm gì được.

Từ những luận giải ở trên tôi đi đến khẳng định rằng, nghi phạm trong mọi vụ án dù là giết nhiều người vẫn được quyền im lặng. Mặc dầu vậy vẫn nên lấy lời khai, bản thân việc đặt câu hỏi và chờ đợi phản ứng của nghi phạm cũng giúp thấy được nhiều điều. Vì đừng quên rằng vấn đề quyền im lặng tồn tại trong môi trường tố tụng hình sự có tính ‘đoán định’, ‘phán xét’ để kết án. Theo đó đứng trước sự ‘đoán định’ thì ‘thái độ im lặng’ cũng cho thấy nhiều điều. Nếu việc đặt câu hỏi là đúng mực không bức ép (vì đã có luật sư tham gia hoặc được ghi âm ghi hình lại) mà nghi can vẫn từ chối trả lời câu hỏi thì người ta có thể đoán định nghi can là thủ phạm.

Nếu nghi can không là thủ phạm thì không việc gì phải lo lắng mà cần hợp tác trả lời các câu hỏi để giúp cho việc điều tra phá án giống như sự trả lời trong vai trò của một nhân chứng. Còn đứng trước các tình tiết dữ kiện được nêu ra và khi bị đặt câu hỏi lại ấm ớ không đưa ra câu trả lời được thì người ta sẽ nghi ngờ anh phạm tội. Cho nên cần khẳng định lại rằng quy định về quyền im lặng không phải là khép lại cánh cửa của cơ quan điều tra mà nó chỉ đơn giản là đòi hỏi một cung cách làm việc khác so với cũ và cần nhiều hơn về trình độ nghiệp vụ.

Quyền im lặng nói riêng và các quy trình thủ tục tố tụng hình sự nói chung là thành tựu của văn minh nhân loại đã được thể hiện trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp Quốc được đúc rút ra mà người ta hy vọng nếu cứ làm theo đó thì con người có thể đạt đến công lý. Trong các vụ trọng án như các vụ án xảy ra ở Bình Phước và Nghệ An, mặc dù chịu sức ép rất mạnh từ cộng đồng và các ban ngành về việc phải tìm ra thủ phạm, nhưng hoạt động điều tra vẫn phải tuân theo những nguyên lý giá trị đã được nghiên cứu đúc kết ra thành luật, mà nếu không làm theo có thể dẫn đến oan sai.

Cuối cùng thì đến năm 2015 Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi đã chấp nhận tiếp thu triển khai quy định về quyền im lặng, tôi có quyền tự hào là đã góp phần tranh đấu thành công cho quyền im lặng thông qua hàng loạt bài báo rất đúng thời điểm. Các bài báo luận giải phản biện từng vấn đề ý kiến một cách mạch lạc rõ ràng, đã giải tỏa được những khúc mắc lo lắng về quyền im lặng để rồi cuối cùng được thông qua. Trong quá trình đó tôi không quên nêu ra vụ án Hàn Đức Long như là một hệ quả của việc bị can không được quyền im lặng.

Còn tiếp …